Một số câu hỏi và nội dung trả lời nghị định 49/2017/NĐ-CP
Ngày đăng: 19/06/2017
1. Tại sao phải quản lý thông tin thuê bao? Ngoài Việt Nam có các quốc gia nào yêu cầu quản lý chặt thông tin thuê bao hay không?

Ảnh minh họa

1.  Tại sao phải quản lý thông tin thuê bao? Ngoài Việt Nam có các quốc gia nào yêu cầu quản lý chặt thông tin thuê bao hay không?

        Trong những năm vừa qua, với chính sách mở cửa thị trường, tạo điều kiện tối đa cho các doanh nghiệp phát triển, thị trường viễn thông đặc biệt là thị trường viễn thông di động đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào sự phát triển của ngành viễn thông nói riêng và của nền kinh tế - xã hội của nước ta nói chung. Hiện nay, tổng số thuê bao di động tại Việt Nam đạt hơn 120 triệu và Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có mật độ thuê bao viễn thông trên 100 dân cao trên thế giới. Cùng với sự phát triển về số lượng thuê bao và thiết bị đầu cuối (với sự phát triển bùng nổ của các thiết bị smart phone), các loại hình dịch vụ dựa trên nền tảng di động cũng đang phát triển không ngừng và được sử dụng một cách rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, điển hình như các dịch vụ: mobile Internet, mobile banking, smart home,… đã cho phép người dùng có thể sử dụng điện thoại di động có gắn SIM thuê bao để có thể thanh toán các giao dịch mua bán, điều khiển các thiết bị điện tử từ xa một cách dễ dàng, thuận tiện.

        Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của công nghệ, ứng dụng di động cũng đã phát sinh nhiều nguy cơ trở thành công cụ phương tiện vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng tới an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, trong đó đặc biệt có thể kể đến các vụ tấn công khủng bố tại nhiều quốc gia như Pháp, Thái Lan. Ở Việt Nam cũng đã có nhiều trường hợp các đối tượng sử dụng các SIM thuê bao để phục vụ hành vi vi phạm pháp luật (đe dọa, tống tiền, nhắn tin quấy rối, lừa đảo,…). Trong các trường hợp này, nếu các SIM thuê bao có thông tin chính xác thì sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan chức năng nhanh chóng xử lý, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đồng thời bảo vệ, bảo đảm quyền lợi cho người dân.

        Chính vì vậy, Việt Nam là một trong số hơn 80 quốc gia trên thế giới (Đức, Thụy Sỹ, Thái Lan, Trung Quốc, Singapore, …) đã có những quy định quản lý về thông tin thuê bao nhằm bảo đảm tối đa tính chính xác của thông tin thuê bao.

2.  Nếu người dân cho mượn thông tin cá nhân như CMND hay chuyển nhượng SIM của mình cho người khác sử dụng mà không giao kết lại hợp đồng và đối tượng đó sử dụng SIM này để cho các hành vi phạm pháp thì sẽ bị xử lý như thế nào. Cơ quan quản lý có khuyến cáo gì các thuê bao trong những trường hợp này?

Về mặt hành chính, theo quy định tại Nghị định 49 (Khoản 1 Điều 2), hành vi sử dụng giấy tờ của người khác (kể cả được cho mượn) hay chuyển SIM mình đăng ký cho người khác sử dụng mà không giao kết lại hợp đồng thì chịu xử phạt vi phạm hành chính đến 500.000 đồng

Trong trường hợp nếu đối tượng đó sử dụng SIM này cho các hành vi phạm pháp (tương tự như việc cho mượn ô tô, xe máy) thì chắc chắn người đang có thông tin thuê bao của SIM sẽ có trách nhiệm cần giải trình, chứng minh sự vô can của mình khi được cơ quan chứng năng yêu cầu, thậm chí phải chịu trách nhiệm liên đới nếu các hành vi vi phạm này gây hậu quả nghiêm trọng.

Do vậy, để góp phần bảo đảm an toàn xã hội và quyền lợi của chính bản thân, đề nghị người dân ủng hộ của người dân và thực hiện đúng các quy định. Không cho mượn giấy tờ và phải giao kêt lại hợp đồng khi chuyển quyền sử dụng SIM thuê bao.

3.  Trong trường hợp các khách hàng sử dụng thuê bao không chính chủ sẽ gặp phải những rủi ro gì? Cơ quan quản lý có khuyến cáo khách hàng như thế nào trong trường hợp này?

Các rủi ro khách hàng có thể gặp:

-  Có thể mất số thuê bao đang sử dụng khi người có thông tin thuê bao khiếu nại lên nhà mạng;

-  Có thể không nhận được sự hỗ trợ của nhà mạng và trong tương lai có thể không nhận được các ưu đãi của nhà mạng;

-  Có thể bị cắt liên lạc hoặc thậm chí cắt dịch vụ nêu không đi đăng ký lại thông tin theo yêu cầu của nhà mạng

        Để bảo đảm quyền lợi của chính bản thân, đề nghị khách hàng kiểm tra thông tin thuê bao (nhắn tin theo cú pháp TTTB tới số 1414 hoặc tra trên trang thông tin của doanh nghiệp) và thực hiện cập nhật lại thông tin thuê bao, giao kết lại hợp đồng theo đúng quy định.

4.  Làm thế nào để người sử dụng dịch vụ có thể biết mình đang bị sử dụng thông tin để đăng ký, giao kết sử dụng 1 số thuê bao mà mình không sử dụng. Trong trường hợp phát hiện người sử dụng có thể làm gì? 

       Người sử dụng nên tự kiểm tra được thông tin thuê bao của mình trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp hoặc nhắn tin theo cú pháp TTTB gửi 1414, sẽ nhận được bản tin thông báo về họ tên; ngày sinh; số, nơi cấp giấy tờ tùy thân; danh sách các số thuê bao mà cá nhân đang sử dụng (đối với thuê bao là cá nhân); tên tổ chức, số giấy chứng nhận pháp nhân (đối với thuê bao là tổ chức). Cá nhân, tổ chức chỉ kiểm tra được thông tin của số thuê bao của mình, không kiểm tra được thông tin của các thuê bao khác.

      Trường hợp phát hiện thông tin cá nhân của mình đang được sử dụng bởi người khác, có quyền yêu cầu doanh nghiệp viễn thông chấm dứt hợp đồng sử dụng số thuê bao đó.   

5.  Có những thuê bao sử dụng rồi nhưng lại không phải là chính chủ. Vậy họ có thể đăng ký lại thông tin thuê bao được hay không. Nếu có sẽ áp dụng theo quy định nào?

Được.

Khi thuê bao kiểm tra thông tin theo quy định tại Nghị định phát hiện thấy thông tin thuê bao không đúng cần chủ động liên hệ với doanh nghiệp viễn thông để cung cấp các tài liệu, thông tin có liên quan, chứng minh số thuê bao là của minh theo các quy trinh mà các doanh nghiệp viễn thông hiện đang áp dụng và thực hiện lại việc giao kết hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung với doanh nghiệp viễn thông theo các qui định tại khoản 1,3,4 Điều 1 Nghị định.

6.  Nghị định bổ sung một số thông tin thuê bao so với quy định trước đây đặc biệt là phải có ảnh chụp người đến giao kết hợp đồng, điều kiện giao dịch chung. Việc chụp ảnh này đã có quốc gia nào quy định tương tự chưa? Ngoài nội dung này sau khi triển khai Nghị định, việc đăng ký thông tin thuê bao sẽ được thực hiện như thế nào?

  Về thủ tục,  người sử dụng sẽ không phải tự điền bản khai đăng ký thông tin thuê bao như trước đây mà chỉ cần cung cấp giấy tờ tùy thân; nhân viên giao dịch của các điểm cung cấp dịch vụ viễn thông (CCDVVT) sẽ làm phần còn lại. Thủ tục đơn giản hơn, nhanh  hơn; đặc biệt khi các doanh nghiệp viễn thông áp dụng các ứng dụng CNTT.   

      Đối với thông tin thuê bao của thuê bao di động, Nghị định đã yêu cầu bổ sung thêm ảnh chụp người trực tiếp đến giao kết hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung. Ảnh chụp người đến trực tiếp sẽ là bằng chứng xác thực nhất để bảo đảm đúng người, đúng thời gian thực hiện, tránh được tình trạng các điểm CCDVVT cố tình sử dụng giấy tờ của một cá nhân để đăng ký thông tin thuê bao cho các SIM thuê bao khác (mà cá nhân đó không biết) trong khi doanh nghiệp chưa có đủ công cụ để phát hiện như đã xảy ra trong thời gian qua, đặc biệt là trong bối cảnh Nghị định đã lược bỏ quy định về giới hạn số SIM thuê bao.

      Ngoài ra, việc thực hiện điều này là hoàn toàn khả thi trong thực tế hiện nay, tương tự như khi đi làm giấy tờ cá nhân khác (bằng lái xe, giấy chứng minh nhân dân), khi doanh nghiệp có thể sử dụng điện thoại thông minh, webcam, camera phù hợp và có thể thực hiện rất đơn giản, nhanh gọn.

      Trên thế giới, nhiều quốc gia đã có hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin cá nhân điện tử như Mỹ, Đức, Nhật, … và mỗi khi thực hiện đăng ký thông tin thuê bao, người dân cần xuất trình giấy tờ để doanh nghiệp phải đối chiếu, xác nhận trên hệ thống này. Ở các nước như Thái Lan, Pakistan gần đây đã yêu cầu triển khai hệ thống nhận diện vân tay của người đến đăng ký thông tin thuê bao với chi phí rất cao và thủ tục phức tạp hơn rất nhiều so với việc chụp ảnh.

      Do vậy rất mong nhận được sự ủng hộ, hợp tác của người dân, xã hội trong việc triển khai thực hiện các quy định có liên quan.

7.  Trước đây, quy định về quản lý thuê bao trả trước khống chế số lượng SIM đăng ký trên mỗi mạng. Vậy tại sao quy định mới lại bỏ điều này? Liệu việc bỏ khống chế số lượng SIM/thuê bao/mạng có làm bùng phát SIM ảo?

Nghị định không quy định khống chế số lượng SIM thuê bao nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của các cá nhân, tổ chức; phù hợp với Hiến pháp và quản lý chặt hơn. Đồng thời Nghị định cũng đã đưa ra các quy định nhằm bảo đảm không bùng phát SIM ảo: 

-  TT04:  mỗi cá nhân 3 SIM trả trước/1 mạng; mỗi tổ chức được sở hữu 100 SIM trả trước/1 mạng

-  Thực tế việc hạn chế số lượng SIM cũng chỉ là hạn chế bớt khả năng sai sót số đông mà không thật sự hiệu quả (ví dụ một người đăng ký 3 SIM rồi bán cho người khác sử dụng cũng vẫn đúng quy định), không phù hợp với yêu cầu (có tổ chức cần hơn 100 SIM nhất là SIM thiết bị) và không thật sự phù hợp với Hiến pháp.

-   NĐ49: không giới hạn số lượng số SIM trả trước cá nhân, tổ chức được sử dụng và đưa ra các qui định vừa đáp ứng nhu cầu thực thế, vừa đảm bảo tính chính xác của TTTB, như sau:

o  Cá nhân chỉ thực hiện giao kết hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung sử dụng các số thuê bao cho bản thân mình, con đẻ hoặc con nuôi dưới 14 tuổi và những người thuộc quyền giám hộ của mình theo quy định của pháp luật (đối với đối tượng sử dụng là người); cho các thiết bị dùng cho bản thân mình hoặc gia đình mình (đối với đối tượng sử dụng là thiết bị). Tổ chức chỉ thực hiện việc giao kết hợp đồng sử dụng các số thuê bao cho các nhân viên, thiết bị thuộc tổ chức mình. (điểm b khoản 9 Điều 1);  khi đăng ký phải cung cấp đầy đủ tên tuổi, CMTND của nhân viên (điểm b khoản 3 Điều 1);

o Cá nhân: Đối với 3 số thuê bao di động đầu tiên: xuất trình giấy tờ và ký vào bản giấy hoặc bản điện tử bản xác nhận thông tin thuê bao; từ số thuê bao thứ tư trở lên, thực hiện giao kết hợp đồng theo mẫu với DN (để tăng cường trách nhiệm và giúp của DN khi cá nhân đề nghị cung cấp số lượng lớn các số thuê bao)  (Khoản 7 Điều 1);

o Khi chuyển quyền sử dụng số thuê bao, phải giao kết lại HĐ (điểm d khoản 9 Điều 1).

8.  Có phải khi áp dụng chính sách này sẽ có nhiều đại lý đang bán SIM thẻ hiện nay sẽ phải đóng cửa hay không?

          Hiện nay, việc mua bán SIM thuê bao có thể thực hiện ở mọi nơi (từ hàng nước, tiệm tạp hóa cho đến siêu thị) rồi mới đến điểm đăng ký thuê bao để đăng ký thông tin và yêu cầu kích hoạt sử dụng dịch vụ. Trong khi, về bản chất, SIM thuê bao (đã gắn số điện thoại) là một phần của dịch vụ viễn thông mà doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng. Ngoài ra, theo các quy định hiện hành, SIM thuê bao cũng chỉ được kích hoạt sau khi người sử dụng đã đăng ký thông tin thuê bao và doanh nghiệp đã lưu giữ thông tin thuê bao, nên không có lý do gì lại phải mua SIM ở một nơi rồi sau đó đến điểm đăng ký thông tin thuê bao để đăng ký. Trên thế giới, đa số các nước chỉ cung cấp SIM cho người sử dụng sau khi người sử dụng đã xuất trình giấy tờ tùy thân để doanh nghiệp trích xuất, lưu trữ thông tin.

      Trong quá trình nghiên cứu, Bộ Thông tin và Truyền thông đã chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, các Sở Thông tin và Truyền thông tại các tỉnh, thành phố  và chính các doanh nghiệp viễn thông di động nghiên cứu nguyên nhân cũng như tìm giải pháp hữu hiệu cho vấn đề thông tin thuê bao không chính xác, SIM rác bày bán tràn lan mặc dù đã có nhiều quy định của pháp luật, Kết quả cho thấy nguyên nhân trực tiếp của các sai phạm này chủ yếu là việc thực hiện không nghiêm túc của các điểm đăng ký thông tin thuê bao (mà chủ yếu là điểm đăng ký thông tin thuê bao ủy quyền của các cá nhân).

      Chính vì vậy, nhằm tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc triển khai các điểm đăng ký thông tin thuê bao của mình, hoàn toàn chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn những đối tác để ủy quyền và sự tuân thủ quy định của pháp luật của các đối tác đó và phù hợp thông lệ quốc tế, Nghị định đã quy định thống nhất điểm cung cấp SIM và đăng ký thông tin thuê bao, không cho phép doanh nghiệp viễn thông ủy quyền việc cung cấp SIM thuê bao và đăng ký thông tin thuê bao cho các cá nhân, hộ kinh doanh cá thể.

Do vậy, đúng là có thể sẽ dẫn tới một số đại lý đang thực hiện phân phối SIM thuê bao cho doanh nghiệp viễn thông, điểm đăng ký thông tin thuê bao (đặc biệt là các hộ kinh doanh cá thể) bị ảnh hưởng. Tuy nhiên các điểm bán SIM, đăng ký thông tin thuê bao  này nếu có nhu cầu kinh doanh, bán SIM thật sự hoàn toàn có thể chuyển thành điểm cung cấp dịch vụ viễn thông ủy quyền của doanh nghiệp viễn thông (trên cơ sở chuyển đổi thành Doanh nghiệp và đáp ứng các tiêu chí do doanh nghiệp viễn thông yêu cẩu). Ngoài ra, vì lợi ích công cộng (bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ người dân, hạn chế SIM rác, tin nhắn rác), nếu một số đại lý, điểm đăng ký thông tin thuê bao phải ngưng hoạt động do không đáp ứng các tiêu chí cũng rất mong nhận được sự ủng hộ của người dân, xã hội trong việc thực hiện đúng các quy định (tương tự như việc cấm xích lô, xe ba gác, bán hàng rong trên phố, hay chấm chứt tình trạng nhà nhà làm đại lý Internet trước đây) 

9.  Theo quy định mới chỉ có điểm CCDVVT đáp ứng các quy định mới được bán và kích hoạt SIM, vậy các SIM tồn của các điểm bán khác hiện nay sẽ xử lý ra sao?

Nghị định đã  quy định rõ trong 3 tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực (24/4/2017) các doanh nghiệp viễn thông di động có trách nhiệm thu hồi các SIM rà soát, thông báo, thanh lý hợp đồng, thu hồi toàn bộ các SIM thuê bao di động đã được doanh nghiệp phân phối cho các đại lý.

Thực tế đối với các SIM hợp pháp (không kích hoạt sẵn thông tin thuê bao, còn thời hạn sử dụng) đang tồn tại trên các kênh phân phối của các doanh nghiệp viễn thông di động (các đại lý, điểm bán), trong quá trình xây dựng Nghị định, các doanh nghiệp viễn thông đã tổng hợp, báo cáo theo đó số lượng này không còn nhiều, đồng thời các doanh nghiệp đã cam kết sẽ thực hiện thu hồi các SIM này theo đúng hợp đồng đã ký với các kênh phân phối.

10.  Theo quy định cũ, điểm bán của nhà mạng phải có diện tích đủ, có máy photo,… để lưu trữ thông tin thuê bao. Vậy trong quy định này có còn giữ các điểm đó hay không?

Không.

 Thay vào đó, Nghị định qui định các điểm điểm cung cấp dịch vụ viễn thông (CCDVVT) phải có trang thiết bị bất kỳ loại nào miễn là đáp ứng được yêu cầu lấy giữ liệu, lưu trữ và gửi về doanh nghiệp viễn thông; và đáp ứng được yêu cầu thanh kiểm tra của CQQLNN khi cần.

http://mic.gov.vn/

Tin liên quan

Trang 1 / 201 - 2002 dòngFirstPrevNextLast v
Trang 1 / 201 - 2002 dòngFirstPrevNextLast v